kinh tế xã hội mà CCKT đó mang lại như thế nào. Điều này cần thiết cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cả nước, riêng các vùng, các doanh nghiệp, trong đó có tồn tại cơ cấu
kinh tế nông thôn.
* Cơ cấu kinh tế nông thôn:
Cơ cấu kinh tế nông thôn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông
thôn. Nó là cấu trúc hữu cơ các bộ phận kinh tế trong khu vực nông thôn trong quá trình
phát triển, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt
lượng và có liên quan chặt chẽ về mặt chất, chúng có tác động qua lại lẫn nhau, trong
không gian và thời gian, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, tạo thành
một hệ thống kinh tế nông thôn. CCKT nông thôn là một bộ phận hợp thành, không thể
tách rời CCKT quốc dân. Nó đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc
dân, nhất là đối với các nước kém phát triển. Kinh tế nông thôn bao gồm các hoạt động
sản xuất kinh doanh và dịch vụ được tiến hành trên địa bàn nông thôn.
Xác lập CCKT nông thôn chính là giải quyết mối quan hệ giữa những bộ phận
cấu thành trong tổng thể kinh tế nông thôn dưới tác động của lực lượng sản xuất, giữa tự
nhiên và con người, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế nông thôn và kinh tế
thành thị trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng được xem xét trên các mặt và các mối quan hệ của
chúng như: Cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn, cơ cấu các vùng lãnh thổ và cơ cấu các
thành phần kinh tế nông thôn.
2. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn.
Cơ cấu kinh tế nông thôn vừa có những đặc trưng chung của CCKT vừa có đặc
trưng riêng của vùng nông thôn với những đặc điểm mang tính đặc thù. Những đặc trưng
riêng của CCKT nông thôn được biểu hiện như sau:
- Do đặc điểm của kinh tế nông thôn nên CCKT nông thôn, bị chi phối mạnh mẽ
bởi cấu trúc của kinh tế nông thôn. Điều đó biểu hiện ở chỗ, trong CCKT nông thôn,
nông nghiệp, thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành và chúng chỉ có thể chuyển
biến khi CCKT nông thôn biến đổi theo hướng có tính quy luật "giảm tương đối và tuyệt
đối số người lao động hoạt động trong khu vực nông thôn với tư cách là lao động tất yếu"
lao động này ngày càng thu hẹp để tăng lao động thặng dự.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn hình thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời và phát
triển của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Từ thời kỳ kinh tế sinh tồn chuyển sang
thời kỳ du canh, du mục, tự cấp tự túc, nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn này đồng nhất
với nền kinh tế nông nghiệp mà cơ cấu của nó là hai ngành trồng tỉa lương thực và chăn
5
thả đại gia súc gắn liền với hai bộ phận trồng trọt và chăn nuôi. Trong bối cảnh này, kinh
tế nông thôn đồng nghĩa với kinh tế nông nghiệp. Chỉ khi chuyển sang thời kỳ nông
nghiệp sản xuất hàng hoá, CCKT nông thôn mới được hình thành và vận động theo
hướng đa dạng, có hiệu quả, sự phân công lao động chi tiết, tỉ mỉ hơn, từ đó những loại
cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao được phát triển và mở rộng, mở mang nhiều
ngành nghề, dần dần đưa kỹ thuật và công nghệ mới vào nông thôn, mở rộng và phát
triển các loại hình tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ nông thôn.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn được hình thành và vận động trên cơ sở điều kiện tự
nhiên và mức độ lợi dụng, khai thác cải thiện điều kiện tự nhiên (độ ẩm, ánh sáng, lượng
mưa… tức là những nguồn lực của đầu vào được ban phát bởi tạo hoá). Cơ cấu kinh tế
nông thôn, trong đó có cơ cấu nông nghiệp hướng tới sự chuyển dịch nhằm khai thác tối
ưu và cải thiện điều kiện tự nhiên để có lợi cho con người nhất. Đặc trưng cơ bản của
CCKT nông thôn là tác động hàng loạt của các quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội đến
phát triển toàn diện của nông thôn. Qúa trình xác lập và biến đổi CCKT nông thôn như
thế nào là phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện và hoàn cảnh tự
nhiên nhất định chứ không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của con người. Con người chỉ
có thể nhận thức để tác động thúc đẩy hoặc hạn chế quá trình hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng có hiệu quả cao theo mục tiêu xác định.
Vì vậy, CCKT nông thôn phản ánh tính quy luật chung của quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và được biểu hiện cụ thể trong từng thời gian, không gian khác nhau.
Chuyển dịch CCKT nông thôn phải là một quá trình vận động và có tính quy luật, mọi sự
nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quá trình chuyển dịch nó đều gây phương hại đến sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. "Vấn đề là phải biết bắt đầu tư đâu và với những giải
pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn như thế nào để tác động vào nó sẽ tạo ra phản
ứng dây chuyền cho tất cả các yếu tố trong toàn bộ hệ thống cơ cấu kinh tế nông thôn
cùng phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng, của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế mang tính ổn định tương đối trong từng điều kiện và hoàn cảnh
lịch sử cụ thể, tuy nhiên, xét cả quá trình, nó không cố định, luôn vận động mang tính tất
yếu khách quan. Vì vậy, chuyển dịch CCKT là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối
quan hệ của hệ thống kinh tế theo một chủ đích và định hướng nhất định, nghĩa là đưa hệ
thống kinh tế đến các trạng thái phát triển tối ưu, đạt được hiệu quả tổng hợp mong muốn
thông qua các tác động điều khiển có ý thức, hướng đích của con người trên cơ sở nhận
thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan.
6
II. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN.
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Chuyển dịch CCKT nông thôn là sự vận động và thay đổi cấu trúc của các yếu tố
cấu thành trong kinh tế nông thôn theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con
người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định. Đó là sự
chuyển dịch theo những phương hướng và mục tiêu nhất định chuyển dịch CCKT nông
thôn được xem xét trên các phương diện: Chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, và cơ
cấu thành phần kinh tế…
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông thôn là sự thay đổi mối quan hệ tương
quan của mỗi ngành so với tổng thể các ngnàh trong nông thôn. sự thay đổi này do 2 yếu
tố là số lượng các tiểu ngành thay đổi và mối tương quan tốc độ phát triển giữa các ngành
có sự thay đổi hoặc thay đổi đồng thời cả 2 yếu tố đó.
Chuyển dịch CCKT theo vùng nông thôn là sự chuyển dịch của các ngành kinh tế
xét theo từng vùng. Về thực chất, cũng là sự chuyển dịch của ngành, hình thành sản xuất
chuyên môn hoá, nhưng được xét ở phạm vi hẹp hơn theo từng vùng lãnh thổ.
Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế là sự thay đổi tỷ lệ về sản xuất kinh
doanh của các thành phần kinh tế trong nông thôn. Cơ sở của sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo thành phần là sự tồn tại khách quan, vai trò, vị trí của từng thành phần kinh tế
trong kinh tế nông thôn và sự vận động khách quan của nó trong nền kinh tế. Đối với cơ
cấu thành phần kinh tế, bên cạnh sự vận động khách quan thì sự định hướng về mặt chính
trị - xã hội theo các cơ sở khách quan có sự tác động rất lớn đến sự chuyển dịch cơ cấu
thành phần kinh tế trong nền kinh tế nói chung, trong nông thôn nói riêng.
2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là xu hướng vận động có tính khách quan,
dưới sự tác động của các nhân tố. Trên thực tế, cùng với quá tình hình thành và phát triển
phong phú, đa dạng các ngành kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, thì cơ cấu giữa các
ngành cũng ngày càng phức tạp và luôn biến đổi theo nhu cầu của xã hội, theo đà phát
triển của thị trường và theo khả năng của sản xuất để khai thác các nguồn lực vừa để đáp
ứng nhu cầu thị trường vừa nâng cao hiệu quả sản xuất. Quá trình chuyển dịch của
CCKT nông thôn bao gồm những xu hướng cơ bản sau:
- Chuyển dịch CCKT nôgng nhiệp, nông thôn sang sản xuất hàng hoá. Trong nền
nông nghiệp độc canh, ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn. Sự mất cân đối giữa trồng
trọt và chăn nuôi bắt nguồn từ tính chất của sản xuất và khả năng giải quyết các nhu cầu
về lương thực trong điều kiện trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp. Từ đó mọi
7
yếu tố về nguồn lực tự nhiên và lao động đều phải tập trung vào sản xuất trồng trọt. Sự
biến đổi của khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và
năng suất đất đai. Do đó đã cho phép chuyển bớt các yếu tố nguồn lực cho sự phát triển
của các ngành khác, trong đó có các ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, phát triển nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có nghĩa là sản xuất sản phẩm đển bán chứ không
phải chỉ để tiêu dùng cho bản thân và gia đình họ. Vì vậy, sản xuất ra loại hàng hoá gì?
Số lượng bao nhiêu? Cơ cấu chủng loại thế nào? điều đó không phụ thuộc vào người sản
xuất mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ và khả năng tiêu thụ của thị trường, do sự chi
phối của thị trường, đó là mối quan hệ: thị trường - sản xuất hàng hoá - thị trường. Như
vậy, xác lập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá trước
hết phải từ thị trường và vì thị trường, lấy thị trường làm căn cứ và xuất phát điểm. Xem
đây là giải pháp quan trọng nhất để chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn.
- Chuyển dịch CCKT nông thôn từ nông nghiệp thuần tuý sang phát triển nông
nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi. là sự chuyển dịch CCKT nông thôn từ nông nghiệp là
chủ yếu sang kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi chuyển chúng thành những
ngành sản xuất hàng hoá ở nông thôn.
- Chuyển dịch CCKT nông thôn từ thuần nông sang phát triển nông thôn tổng
hợp. Các nhân tố tác động lớn đến chuyển dịch CCKT nông thôn từ thuần nông sang phát
triển nông thôn tổng hợp, bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển của nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi
một mặt đã cho phép chuyển một số nguồn lực của các ngành này cho sự phát triển công
nghiệp và dịch vụ, mặt khác tạo ra những yếu tố về thị trường đòi hỏi phải có sự phát
triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển này làm
cho CCKT có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng dần tỷ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Trên cơ sở đó, lao động
cũng sẽ chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn nuôi, từ sản xuất nông nghiệp sang làm dịch
vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và chuyển lao động thủ công sang lao
động cơ khí trên đồng ruộng, trong chuồng trại và các xí nghiệp chế biến nông sản.
3. Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch.
Cơ cấu kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn chịu sự tác
động của một số nhân tố sau:
- Sự phát triển của khoa học- công nghệ: là một trong các nhân tố chủ yếu tạo
những điều kiện tiền đề để chuyển dịch CCKT nói chung và CCKT nông thôn nói riêng.
Sự phát triển của khoa học và năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và thay đổi cả
8
phương thức lao động, tạo khả năng đổi mới những nguyên tắc và công nghệ sản xuất
trong các ngành kinh tế. Trong nông nghiệp, nông thôn, khoa học kỹ thuật đã có những
tác động mạnh mẽ về cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, cách mạng về sinh học. Từ
đó hàng loạt giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao và hiệu quả kinh tế lớn đợc đưa
vào sản xuất. Nhu cầu của xã hội về nông sản, trước hết là lương thực đã đáp ứng. Nhờ
đó nông nghiệp có thể rút bớt chuyển sang sản xuất các ngành trồng trọt với giá trị sử
dụng và giá trị kinh tế cao như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây sinh
vật cảnh. Sự phát triển của khoa học - công nghệ đã tạo những điều kiện tiền đề cho sự
chuyển dịch CCKT, trong đó có CCKT nông thôn.
- Quá trình phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá: Đây là đòn bẩy tăng
năng suất lao động, thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ. Cơ cấu kinh tế nông thôn
là hệ quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội trong nông thôn, nhiều ngành nghề
hình thành, tính chất chuyên môn hoá càng cao, xoá dần tư tưởng tự cấp tự túc, tiến lên
sản xuất hàng hoá. Từ đó, người nông dân phải suy nghĩ, nghiên cứu từng loại giống cây
trồng vật nuôi, kỹ thuật canh tác, lợi dụng các điều kiện thuận lợi và nó tránh sự khắc
nghiệt, bất lợi của tự nhiên.
- Tác động của cơ chế thị trường và sự mở rộng thị trường CCKT nông thôn hình
thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá.
Lượng dân cư lớn ở nông thôn đã tạo ra thị trường sôi động với các hàng hoá có giá trị
kinh tế cao. Thu nhập của nhân dân tăng lên tạo sức mua lớn thì thị trường nông thôn là
cơ sở để các khu vực công nghiệp và dịch vụ tiếp tục phát triển và hướng vào xu thế hiện
đại hoá ngành nông nghiệp. Sản xuất hàng hoá phát triển kéo theo sự phát triển của cơ sở
hạ tầng, trong đó phải kể đến là hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và điện. Sự phát
triển của thị trường tạo điều kiện tiêu thụ nông sản phẩm với tốc độ nhanh, khuyến khích
phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản, , khuyến khích nông dân sản xuất các
loại sản phẩm phù hợp.
- Định hướng phát triển kinh tế của nhà nước có vai trò to lớn thúc đẩy quá trình
chuyển dịch CCKT nông thôn. Nhà nước tác động vào nông thôn trước hết thông qua hệ
thống định hướng, điều tiết nền kinh tế theo mục tiêu xác định trong từng thời kỳ. Chính
sách kinh tế có vai trò quan trọng tác động trực tiếp vào môi trường sản xuất kinh doanh
ở nông thôn.
- Điều kiện kinh tế xã hội: đây là một tiền đề quan trọng hình thành và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
9
PHẦN II
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở HUYỆN SI
MA CAI - LÀO CAO
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH
1. Điều kiện tự nhiên:
Huyện Si Ma Cai là một huyện miền núi của tỉnh Lào Cai có điều kiện tự nhiên
phong phú:
a. Về vị trí địa lý:
Huyện Si Ma Cai nằm ở vào khoảng 22
0
52' đến 23
0
35' độ bắc và 103
0
45' - 104
0
20'
độ kinh đông.
+ Phía Tây giáp: Huyện Mường Khương và Bắc Hà
+ Phía Bắc giáp: Huyện Mã Quan (Trung Quốc)
+ Phía Đông giáp: Huyện Bắc Hà và Huyện Sí Mần (Hà Giang)
+ Phía Nam giáp: Huyện Bắc Hà
Trung tâm huyện ly Si Ma Cai nằm phía đông bắc nơi đầu nguồn sông chảy và
cách thị xã Lào cai 95km, huyện có 12,5km đường biên giới với Trung Quốc và 12,5km
đường biên giới là đường sông giữa Mường Khương và huyện Mã Quan - Trung Quốc.
b. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí tượng thuỷ văn.
* Địa hình: Si Ma Cai có địa hình chia cắt nhiều phần, núi đá cao, độ dốc lớn.
Đường giao thông đi lại hết sức khó khăn. Núi đá là chủ yếu. Theo đặc điểm về khí hậu
có thể chia Si Ma Cai thành hai tiểu vùng. vùng nóng và vùng lạnh, nhưng ranh giới
không rõ rệt.
+ Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 23,454 ha. Trong đó đất nông nghiệp
6.694,46h, đất lâm ngihệp 4.298,4 ha với đất rừng tự nhiên 3.591,5 h, rừng trồng 706,9
ha, đất chống đồi núi chọc là 11.774,44 ha.
Sông, suối với Si Ma Cai phân bổ chủ yếu qua địa phận của 7 xã Si Ma Cai, Lùng
Sui, Sán Chải, Nàn Sán, Bản Mế, Sín Chảy và Nàn Sín. Như vậy, với địa hình nhiều núi
đá cao, độ dốc lớn, bị chia cắt và xa trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh. Về cơ bản địa
hình của huyện Si Ma Cai không thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khó
khăn trong việc tập trung sản xuất hàng hoá.
* Thổ nhưỡng: Do cấu tạo địa hình khác nhau nên thổ nhưỡng của từng vùng
cũng khác nhau có thể chia làm 2 vùng cơ bản:
10
Vùng lạnh: Đây là vùng có đất mùn vàng đỏ đất mùn pheralit loại đất này thích
hợp cho việc trồng các loại cây đào, mận, lê, cây lấy gỗ và cây thuốc lá.
Vùng nóng: Vùng này chủ yếu là đất mùn alít nằm ven dọc theo dòng sông chảy
thích hợp trồng các loại cây lúa sớm, cây ngô, đậu tương, lạc và cây ăn quả như: Táo,
chuối…
Nhìn chung thổ nhưỡng của huyện Si Ma Cai có thể cho phép canh tác được
nhiều loại cây trồng phong phú và đa dạng.
* Khí tượng, thuỷ văn:
- Khí tượng: Si Ma Cai nằm ở khu vực thượng lưu sông chảy có độ dốc cao, nên
khí hậu mang nhiều tính chất của khí hậu lục địa. Đặc điểm khí hậu Si Ma Cai là vùng có
khí hậu cận nhiệt đới, một năm có hai mùa. Mùa đông lạnh kéo dài nhiệt độ bình quân từ
14 - 15
0
C. Tháng 1 là tháng lạnh nhất nhiệt độ có thể xuống 5 -2
0
C (có nơi có thể xuốgn
0
0
C), mùa hè mát mẻ nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 và ngày cao điểm nhiệt độ lên tới
35
0
C. Nhiệt độ bình quân trong năm là 21
0
C, bình quân thấp nhất trong năm là 2
0
C.
Độ mưa: Huyện Si Ma Cai có lượng mưa lớn nhất là 1.800mm lượng mưa nhỏ
nhất là 1.355mm. Lượng mưa trung bình là 1.400mm.
- Thuỷ văn: Si Ma Cai có sông chảy và các con suối lớn như suối Hoá Chu
Phùng, Cán Cấu, Cán Hồ, Sín Chéng…
Đặc trưng dòng chảy của huyện, do mưa phân bố không đều, địa hình dốc, độ che
phủ của rừng thấp, nên vào mùa mưa nước tập trung nhiều gây ra lũ, sạt lở núi, sạt lở
đường. Trong khi đó mùa khô nước lại cạn kiệt, thậm chí thiếu cả nước sinh hoạt hàng
ngày.
c. Tài nguyên nguyên liệu:
* Tài nguyên khoán sản: Si Ma Cai nghèo về tài nguyên khoán sản trên địa bàn
của huyện chỉ có một số mỏ nhỏ, giá trị kinh tế không cao bao gồm những mỏ sau:
Mỏ kẽm chì nằm ở khu vực cao của xã Bản Mế trữ lượng ZN ở cấp P3 khoản
50.000 tấn.
Mỏ đá xây dựng ở hầu hết các xã trong huyện, trữ lượng lớn hàng trăm triệu m
3
.
Mỏ đất sét có khả năng sản xuất gạch, ngói nằm rải rác ở các xã Si Ma Cai, Bản
Mế, Sín Chải, Nàn Sán, Sín Chéng.
* Nguyên liệu: Tài nguyên rừng của Si Ma Cai có diện tích là 4.298,4ha. Trong
đó rừng trồng là 1.405,9ha, rừng tự nhiên là 2.892,5ha. Rừng Si Ma Cai có nhiều loại gỗ
chủ yếu là nhóm 5, nhóm 6 trữ lượng khoản 400.000m
3
, ngoài gỗ rừng còn có nhiều loại
11
lâm sản khác như: Song, mây, nứa và nhiều loại cây rừng khác có thể cung cấp nguyên
liệu cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
2. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Dân số và lao động:
* Dân số: Theo thống kê mới nhất, tổng dân số huyện Si Ma Cai năm 2000 có 25.325
người với cộng đồng của 11 dân tộc anh em. Dân tộc có số dân đông nhất là người H'Mông
chiếm 81,7% ( 20.701 người). Dân tộc Nùng chiếm 10,93% (2.764 người) và các dân tộc
khác như Kinh, Thu Lao, Phù Lá…
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm bình quân từ 1,732%. Mỗi năm tỷ lệ này
giảm từ 0,3 - 0,45.
Mật độ dân cư trung bình toàn huyện là 107 người/km
2
song phân bố không đều
chủ yếu tập trung ở các xã Si Ma Cai, Bản Mế, Cán Cấu, Lử Thân, Nàn Sán, Sín Chéng
còn lại các xã khác dân cư thưa thớt mật độ dân cư bình quân khoảng 60 - 80 người/km
2
.
* Lao động: Lực lượng lao động chủ yếu là người địa phương trong đó lao động
thuần nông chiếm 40% dân số.
- Lao động nông, lâm nghiệp có khoản 9.000 người.
- Lao động tiểu thu công nghiệp: 170 người.
- Lao động dịch vụ: Có 48 người.
- Cán bộ, công nhân viên chức: 710 người.
Lực lượng kế cận trong độ tuổi từ 15 - 17 chiếm 8 - 10% lao động của toàn
huyện. Lao động có việc làm thường xuyên chiếm khoảng 70% trong độ tuổi. Số cán bộ
quản lý là người kinh chiếm khoảng 70% còn lại là người địa phương.
b. Kết cấu hạ tầng:
* Giao thông: Si Ma Cai là huyện vùng cao, giao thông đi lại hết sức khó khăn,
chủ yếu là đường bộ được dải cấp phối và đường đất. Trong đó đường cấp phối rộng
4,5m; đường đất rộng 4m; đường vào thôn bản rộng 2m. Hiện nay Si Ma Cai đã có 13/13
xã có đường giao thông.
Đường tỉnh lộ dài 16km, tiêu chuẩn đường mới đạt ở cấp A giao thông nông thôn
miền núi mới được nâng cấp.
- Đường liên tỉnh: Có tuyến Bản Mế - Si Ma Cai - Lùng Phìn - Sí Mần (Hà
Giang) chiều dài 36km.
Đường huyện. Có tổng chiều dài 57km bao gồm các tuyến chính như: Si Ma Cai
- Sín Chéng - nàn Sín dài 18km đã được nâng cấp rải mặt đá dăm đường Si Ma Cai - Cán
Hồ - Quan Thần Sán dài 10km.
12
- Đường liên thôn có tổng chiều dài khoản 200km chủ yếu là đường đất, phục vụ
chủ yếu cho ngựa và người đi bộ.
* Điện: Điện lưới quốc gia của huyện Si Ma Cai đã có đường dây 35kv qua các
xã Lử Thẩn, Si Ma Cai, Sán Chải, Nàn Sán, Lùng Sui, Cán Cấu chiều dài đường dây
0,4kv khoảng 30km. Ngoài ra còn đang kéo đường dây 0,4 kv vào Sín Chéng - Nàn Sín
với chiều dài khoảng 10km. Máy thuỷ điện nhỏ ít được nhân dân sử dụng.
* Thuỷ lợi: Si Ma Cai đã xây dựng trên 52 công trình thuỷ lợi lớn và nhỏ. Chiều
dài hệ thống kênh mương trên 70km để phục vụ tưới cho 601 ha lúa chiếm 84,3% diện
tích lúa của toàn huyện. Hiện nay, chương trình 135 của chính phủ, chương trình kiên cố
hoá kênh mương, đã đầu tư nâng cấp thêm 07 công trình phục vụ tưới, tiêu cho diện tích
lúa xuân và lúa vụ mùa.
* Nước sinh hoạt: Nước ăn cho nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Huyện đã đầu
tư xây dựng công trình thuỷ lợi để lấy nước tưới cho ruộng và kết hợp cấp nước sinh hoạt
cho nhân dân. Hiện tại 82/90 thôn bản hệ thống nước sinh hoạt đã được đầu tư xây dựng.
c. Văn hoá xã hội:
* Y tế: Trên địa bàn huyện đã được đầu tư xây dựng 13 trạm y tế xã từ nhà cấp IV
đến nhà cấp III đạt 100% xã có trạm y tế xã bình quân mỗi trạm có 4 giường bệnh điều
trị, 2 phòng khám đa khoa và 01 bệnh viện trung tâm với tổng số 54 giường điều trị
trong đó:
- Số bác sĩ là 07 người
- Số y sĩ và hộ lý là 40 người.
* Về giáo dục và đào tạo
Hệ thống giáo dục mầm non: Toàn huyện có 61 lớp học nhà trẻ mẫu giáo với
1.239 cháu, trong đó tổng số học sinh hệ mầm non dân lập là 120 cháu đạt gần 9,7%
Tổng số trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ mẫu giáo.
Hệ giáo dục phổ thông: Hiện nay đã có 306 lớp với tổng số giáo viên 485 người
trong đó giáo viên tiểu học 338, giáo viên trung học cơ sở 84 người. tỷ lệ học sinh trong
độ tuổi đến lớp đạt 92,0% với 6.918 học sinh. Ngoài ra còn mở 2 lớp bổ túc văn hoá tập
trung, 2 lớp văn hoá tại chức.
Đến nay công tác phổ cập giáo dục tiểu học có 13/13 xã 100% đạt chuẩn phổ cập
giáo dục tiểu học, chống mù chữ.
Đội ngũ giáo viên hầu hết là các thày cô giáo có trình độ, tỷ lệ giáo viên nữ chiếm
70% trong tổng số giáo viên của huyện.
13
II. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở HUYỆN
SI MA CAI:
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện SiMaCai.
Huyện Si Ma Cai mới được tái lập tháng 09 năm 2000, trước năm 2000 địa bàn Si
Ma Cai thuộc sự quản lý của huyện Bắc Hà, trong thời gian này chuyển dịch cơ cấu kinh
tế còn nhỏ và chậm. Một số diện tích đất trồng ngô, hoa màu được chuyển sang làm
ruộng bậc thang, trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn như cây đậu tương, cây
mận…Từ khi được tái lập cơ cấu kinh tế huyện Si Ma Cai có sự chuyển biến mạnh mẽ
hơn.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện thời kỳ 2000- 2002 nhìn tổng thể cả thời
kỳ có sự chuyển dịch theo hướng thuận phù hợp với quy luật chung của cả nước (Tỷ
trọng ngành trồng trọt có xu hướng giảm dần và tăng tỷ trọng ngành tiểu thủ công
nghiệp, ngành chăn nuôi và dịch vụ).
Ngành trồng trọt giảm 1,14% (Từ năm 2000-2002), tỷ trọng ngành tiểu thủ công
nghiệp tăng 1,03%, ngành chăn nuôi tăng 0,03%, ngành dịch vụ tăng 0,08% (Từ năm
2000-2002).
Như vậy để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện cần thiết phải đẩy
mạnh và tập trung phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp, ngành chăn nuôi và dịch vụ để
tăng nhanh tỷ trọng của các ngành này trong cơ cấu giá trị sản phẩm, đồng thời khai thác
hiệu quả các tiềm năng và nguồn lực của huyện.
Biểu 1: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Si Ma Cai.
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
Giá trị sản phẩm (triệu đồng)
1. Ngành trồng trọt
2. Ngành tiểu thủ công nghiệp
3. Ngành chăn nuôi
4. Ngành dịch vụ
91.046
79.240
9.235
2.085
486
93.120
80.734
9.802
2.068
516
95.680
82.192
10.740
2.164
584
Cơ cấu giá trị sản phẩm (%)
1. Trồng trọt
2. Tiểu thủ công nghiệp
3. Chăn nuôi
4. Dịch vụ
100,0
87,04
10,14
2,29
0,53
100,0
86,70
10,53
2,23
0,55
100,0
85,90
11,27
2,26
0,61
Nguồn: Số liệu thống kê huyện Si Ma Cai
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (bao gồm: nông nghiệp, lâm
nghiệp, thuỷ sản)
a. Nông nghiệp:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét