Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình

Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
- Ý nghĩa thực tiến: Đề tài NCKH sinh viên này là một tài liệu tham khảo
có thể ứng dụng vào thực tiễn, dễ hiểu, đặc biệt là thông qua quá trình phân
tích một phóng sự phát sóng trên ĐTH Việt Nam. Dựa trên cơ sở thực tế này,
người viết cũng hy vọng đây là một tài liệu chia sẻ những hiểu biết trên
đường vào nghề truyền hình.
6. Kết cấu
Đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Lý luận chung về “cảnh”
- Chương II: Xây dựng phóng sự từ cảnh chủ chốt
- Chương III: Phân tích một phóng sự để làm rõ cảnh chủ chốt.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ “CẢNH”
1. Cảnh trong phóng sự truyền hình
Cảnh là đơn vị chỉ hình ảnh do máy quay thu được theo ý chủ quan của
con người.
Cảnh trong phóng sự truyền hình xét theo định nghĩa về lĩnh vực quay
phim thì không có gì khác so với cảnh trong phim tài liệu hay trong tin.
Nhưng xét về tính chất, nội dung của cảnh thì cảnh trong phóng sự mang
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
5
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
những nét đặc trưng rõ rệt của phóng sự như về độ dài của cảnh, hình ảnh,
mức độ nghệ thuật…
Thông thường, một cảnh đơn lẻ không mang ý nghĩa gì. Mỗi cảnh chỉ có ý
nghĩa khi nó được ghép vào một lớp cảnh, một dãy liên tiếp những cảnh, ít
nhất cũng là 3 cảnh.
Cảnh cắt là ngoại lệ, đó là hình ảnh chỉ làm cớ để gài vào giữa hai cảnh,
tránh một mối nối giả tạo (có thể gây giật hình) hoặc để sửa chữa (bổ khuyết)
một cuộc phỏng vấn đã được dàn dựng.
Theo tác giả Brigiue Besse, Didier Desormeaux, điều quan trọng nhất
trong phóng sự ngắn chính là phải có một hoặc hai cảnh then chốt. Cảnh then
chốt là cảnh đóng đinh sự kiện, qua cảnh then chốt có thể phát triển sự kiện
hoặc phát triển vấn đề. Nhà báo Neil Eveton (kênh truyền hình Reuter) quan
niệm không nên lạm dụng kỹ xảo dựng hình (đặc biệt là kỹ xảo chồng mờ)
trong phóng sự thời sự bởi như vậy là bóp méo sự kiện. Theo Neil Eveton thì
những cảnh có khả năng tạo ám ảnh trong phóng sự thời sự là cảnh cận, cảnh
hành động…
2. Giá trị các “cảnh”
2.1. Cỡ cảnh - tổng thể
- Viễn cảnh (Long Shot): Cảnh xa, không chi tiết. Thường dùng ở đầu các
trường đoạn. Toàn cảnh tạo lập địa điểm và tâm trạng. Nhưng nó thường tải
nhiều thông tin khác và có thể làm người xem nhầm lẫn.
Ví dụ:
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
6
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
- Toàn cảnh (Wide shot): Cảnh rộng ghi nhận những hành động thích hợp.
- Cảnh cận (close shot): Tập trung vào chi tiết. Cận cảnh được xác định
bởi hiệu quả của nó, chứ không phải cách thực hiện nó như thế nào. Nên ta có
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
7
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
cảnh cận khi đưa máy vào gần chủ thể với ống kính góc rộng hay dùng ống
kính tele từ đằng xa. Cảnh càng cận càng tạo điểm nhấn và giúp người xem
dễ nhận biết phản ứng của chủ thể. Nhưng nhiều cảnh cận quá sẽ cướp đi sự
nhận biết của người xem về không gian và thời gian. Một loạt các cảnh cận
có thể là cách thể hiện hữu hiệu sự tò mò của người xem ở đầu các trường
đoạn. Nhưng đừng chờ quá lâu trước khi trả lời câu hỏi quen thuộc - chuyện
đó xảy ra đâu?
- Cảnh cận: đặc trưng của truyền hình : Thậm chí một máy thu hình được
coi là lớn thì cũng chỉ có màn hình tương đối nhỏ khi so với màn hình của
một rạp chiếu bóng. Muốn thấy rõ các vật và hiểu ý nghĩa của chúng một
cách nhanh chóng, thì các vật đó phải tỷ lệ tương đối lớn trên màn hình vô
tuyến. Như vậy bạn cần có nhiều cảnh cận và trung hơn những cảnh toàn.
2.2. Cỡ cảnh - người
- Toàn cảnh(LS): Cảnh quay cả người.
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
8
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
- Trung cảnh(MS) : Cắt trên hoặc dưới thắt lưng.
- Trung cảnh hẹp (MCU): Cắt giữa ngực/túi áo ngực.
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
9
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
- Cận cảnh(CU): Cắt quanh vai.
- Cận đặc tả (BCU): Mép hình phía trên cắt ngang trán, mép phía dưới
thường cắt như cảnh cận, nhưng có thể cắt ngang cằm.
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
10
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
Quay cảnh người còn được xác định bởi số người: cảnh đơn, cảnh quay
đôi, ba, hay nhóm.
(Những hình ảnh trên chỉ có tính chất minh họa)
2.3. Độ nét sâu
Bao nhiêu phần của cảnh nằm trong tầm nét. Độ mở ống kính nhỏ (ví dụ:
ph11) cho hình ảnh sắc nét trong phạm vi rộng từ gần đến xa (độ nét sâu),
máy dễ dàng theo chủ thể mà không lo hình ảnh bị ra khỏi tầm nét (mất nét).
Đồng thời, nó tạo cảm giác về không gian và chiều sâu, nhưng có thể làm cho
ảnh bẹt và không hấp dẫn.
Sử dụng độ mở ống kính rộng hơn sẽ giảm phạm vi nét từ tiền cảnh đến
hậu cảnh (độ nét nông). Đây là một kỹ thuật tốt để cô lập chủ thể, làm nó nổi
bật khỏi hậu cảnh mờ nhạt.
2.4. Động tác máy
- Lia máy: Máy chuyển động ngang quanh một trục cố định tạo lập quan
hệ giữa chủ thể và vật. Chúng ta cho người xem biết về địa điểm. Nhưng hãy
cẩn thận với những cú lia mà hình ảnh ở đầu và cuối thì hấp dẫn, nhưng ở
giữa lại buồn tẻ hay có không gian chết.
- Lia theo chuyển động: Giống như tất cả các động tác máy, động tác lia
chỉ có hiệu quả khi nó có nguyên do. Lia máy theo chuyển động như cái tên
của nó thực sự cần thiết khi phải theo một vật chuyển động.
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
11
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
- Lia khảo sát (tìm tòi): Máy quay tìm kiếm một ai đó hay người nào đó
trong một cảnh. Bạn phải xác định được động cơ của chuyển động này.
- Lia nhanh: Máy quay chuyển động nhanh đến nỗi hình ảnh bị mờ nhoè.
Lạm dụng sẽ làm mất giá trị của động tác máy này. Người ta thường dùng lia
nhanh khi muốn:
• Thay đổi trọng tâm của sự chú ý. Con thuyền rời đi, lia nhanh tới nơi
thuyền đến.
• Mô tả nguyên nhân và hiệu quả. Khẩu súng nhằm bắn, lia nhanh đến
mục tiêu.
• So sánh và tương phản. Mới và cũ, giàu và nghèo.
- Lia dọc: Chuyển động máy quay dọc theo trục cố định. Lia dọc lên phía
trên tạo sự mong đợi và cảm giác phấn chấn.
Lia dọc xuống phía dưới gợi ra sự thất vọng và sự buồn rầu, và tình cảm u
uất.
- Chuyển động lên thẳng (cần cẩu): Chuyển động của máy quay thẳng
đứng trên một mặt phẳng. Chuyển động này làm nổi bật hành động chính hay
giảm sự chú ý vào tiền cảnh.
- Chuyển động xuống thẳng (cần cẩu): Ngược lại với chuyển động lên
thẳng. Máy chạy dọc xuống trên một mặt phẳng.
- Zoom: Thay đổi cỡ cảnh bằng cách thay đổi tiêu cự ống kính. Động tác
zoom máy thay đổi quan hệ giữa chủ thể và hậu cảnh.
- Đẩy máy : Thay đổi cỡ cảnh bằng cách đẩy máy tiến vào gần hoặc ra xa
khỏi chủ thể. Giữ nguyên quan hệ giữa chủ thể và hậu cảnh.
- Travelling: Khảo sát một vật hay theo một vật chuyển động bằng cách
chuyển máy song song với vật.
2.5. Góc quay
- Quay từ dưới lên: chủ thể trông đường bệ hơn, mạnh mẽ hơn, có dáng vẻ
đe doạ.
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
12
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
- Quay từ trên xuống: chủ thể trông kém đường bệ, thấp bé và có vẻ bất
lực
2.6. Bố cục
Bố cục là sự sắp xếp thông tin trong một khuôn hình. Bạn tìm cách thu hút
sự tập trung của người xem vào một vùng nào đó của hình ảnh, và giảm thiểu
hay loại bỏ những chi tiết làm mất tập trung.
2.7. Nguyên lý một phần ba
Là một nguyên lý đơn giản, nhưng hiệu quả nhất, nguyên tắc bố cục.
Nguyên lý này nêu một màn hình được chia đôi hay chia bốn sẽ cho
những hình ảnh tĩnh và tẻ; một màn hình được chia ba theo chiều ngang và
chiều dọc sẽ cho bố cục năng động và hấp dẫn hơn.
Đường chân trời không nên đặt ngang giữa khuôn hình. Nó phải ở 1/3
khuôn hình phía trên hoặc phía dưới, tuỳ theo ý định nhấn mạnh bầu trời hay
mặt đất (biển).
Các chi tiết quan trọng nằm dọc được đặt ở vị trí 1/3 màn hình theo chiều
dọc.
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
13
Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình
Và nếu khu vực 1/3 theo chiều ngang và chiều dọc quan trọng thì các tâm
điểm nơi chúng giao nhau còn quan trọng hơn. Những giao điểm này dành
cho những chi tiết quan trọng trong khuôn hình. Ví dụ: đôi mắt trên khuôn
mặt.
2.8. Khuôn hình
Ơ đây có hai quyết định. Đưa cái gì vào. Loại cái gì ra. Bạn có thể loại bỏ
những chi tiết làm mất tập trung hay giấu người xem một số thông tin để rồi
sẽ tiết lộ trong những cảnh tiếp theo.
Trung tâm màn hình là khu vực ổn định và hiệu quả khi muốn nhấn mạnh
một đối tượng đơn lẻ (như một phát thanh viên trong một cảnh đơn giản).
Nhưng khi có những điểm nhấn khác trong khuôn hình thì trung tâm màn
hình là khu vực yếu, ít duy trì được sự tập trung của người xem.
Các mép màn hình thì giống như những nam châm. Chúng hút những vật
đặt quá gần chúng. Các góc của màn hình co xu hướng hút chủ thể ra khỏi
khuôn hình.
Sv: Nguyễn Thị Thùy Ngân – K50 Báo Chí
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét