Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đề tài : Vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bài Làm
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cách mạng
Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, về con đường cứu nước, cứu
dân, thống nhất đất nước, thoát khỏi ách áp bức của thực dân, phong kiến, thoát khỏi bần
cùng, lạc hậu. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự
đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc có chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc
cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết
định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 75 năm qua.
Những thành công mà Đảng ta đã đạt được ngày hôm nay có sự đóng góp rất lớn của
chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Người đã chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ
chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã tìm ra con đường cứu nước
đúng đắn và truyền bá khuynh hướng vô sản cho tầng lớp thanh niên yêu nước Việt Nam.
Và cũng chính Người đã thống nhất 3 tổ chức cộng sản để thành lập ra Đảng Cộng sản
Việt Nam như hôm nay.
1, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam:
con đường cách mạng vô sản – mở tiền đề cho việc thành lập Đảng cộng sản.
1.1, Hoàn cảnh đất nước ta trước khi Bác ra đi tìm đường cứu nước
Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các hiệp ước Harmand
(1883), Patenotre (1884), đầu hàng thực dân Pháp, song phong trào đấu tranh chống thực
dân Pháp vẫn diễn ra. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong
kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Tiêu biểu nhất cho thời kỳ này là phong trào Cần Vương
(1885-1896), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang), cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy,…Tuy nhiên
các cuộc khởi nghĩa này đều bị thực dân Pháp dập tắt trong biển máu. Thất bại của các
phong trào trên đã chứng tỏ gaii cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều
kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc Việt Nam.
Sang đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ
chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi. Về mặt phương pháp, tầng
lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX có sự phân hóa thành 2
xu hướng. Một bộ phận chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, khôi
phục lại chủ quyền quốc gia bằng biện pháp bạo động . Một bộ phận khác lại coi cải cách
là giải pháp để tiến tới khôi phục độc lập.
Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu, ông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ
bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà
nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Ông lập ra Hội Duy Tân( 1904), tổ chức
phong trào Đông Du( 1906-1908). Rồi sau đó về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang Phục
Hội( 1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo đông chống
Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng rồi cũng không thành công.
Đại biểu xu hướng cải cách là Phan Chu Trinh, với chủ trương vận động cải cách văn
hóa, xã hội, động viên lòng yêu nước trong nhân dân, đả kích bọn phong kiến vua quan
thối nát, thực hiện chấn dân khí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền, phản đối đấu tranh vũ
trang,…Hoạt động cách mạng của Phan Chu Trinh đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước
của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên về phương pháp, “Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu
người Pháp thực hiện cải lương, điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủi lòng
thương.”
Ngoài ra trong thời kỳ này ở Việt Nam còn có nhiều phong trào đấu tranh nổ ra, theo đó
các tổ chức đảng phái cũng bắt đầu ra đời. Các đảng phái chính trị tư sản và tiểu tư sản đã
góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp , đặc biệt là Tân Việt cách mạng
Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng. Trong nội bộ Tân Việt cách mạng Đảng thì khuynh
hướng cách mạng theo quan điểm vô sản đã thắng thế, còn Việt Nam quốc dân Đảng là
một đảng chính trị theo xu hướng dân chủ tư sản. Về sau cuộc khởi nghĩa của Việt Nam
quốc dân Đảng đã bị thực dân Pháp dập tắt, còn số đảng viên tiên tiến còn lại trong Tân
Việt tích cực chuẩn bị để tiến tới thành lập một chính đảng theo chủ nghĩa Mac-Lenin.
1.2, Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyên Ái Quốc
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An. Lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành. Lớn lên
giữa lúc nước mất nhà tan, đau xót trước cảnh lầm than của đồng bào. Nguyễn Tất Thành
sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Ngày 5-6-1911. Nguyễn Tất
Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước, xem các nước làm thế nào rồi trở về giúp
đồng bào.
Gần mười nǎm bôn ba khắp các châu lục (1911-1920), Người đến những nước thuộc
địa và những nước đế quốc như Anh, Mỹ, Pháp quan sát, nghiên cứu, suy nghĩ, đã phát
hiện một chân lý: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau
khổ của giai cấp công nhân với nhân dân lao đồng ở chính quốc cũng như ở các nước
thuộc địa
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp. Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công,
Người tham gia những hoạt động chính trị sôi nổi ngay trên đất Pháp như : tham gia hoạt
động trong phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6 - 1919, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi
“ Bản yêu sách 8 điểm” đến Hội nghị Vécxai, nhằm tố cáo chính sách của Pháp và đòi
Chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt
Nam. Mặc dù không được chấp nhận, nhưng “ Bản yêu sách” đã gây tiếng vang lớn đối với
nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.
Vào tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Người tìm thấy
trong luận cương của Lênin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam,
về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới… Nguyễn Ái
Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tháng 12 nǎm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái
Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và chủ trương thành lập Đảng
cộng sản Pháp. Giải thích việc làm đầy ý nghĩa đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết: "Đệ tam
Quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Còn Đệ nhị
Quốc tế không hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy, tôi đã bỏ phiếu tán thành Đệ
tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đây là tất cả những điều tôi
muốn."
Sự kiện này đánh dấu ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người – từ yêu
nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. “Muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản
“.Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định : “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ
nghĩa chân chính nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin, con đường cách mạng Việt Nam không
có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản.”
2, Sau khi tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tích cực
chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam.
2.1, Chuẩn bị về tư tưởng :
2.1.1, Thời kỳ ở Pháp (1919-1923) : Người xác định kẻ thù chính của nhân dân ta
Từ khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã xúc tiến mạnh mẽ việc truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào giải phóng dân tộc và phong trào vô sản ở các nước
thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Năm 1921 Người cùng với một số nhà yêu nước của các nước thuộc địa khác như:
Angiêri, Tuynidi, Marốc thành lập " Hội liên hiệp thuộc địa" để tuyên truyền, tập hợp lực
lượng chống chủ nghĩa đế quốc. Năm 1922 : Ra báo “ Le Paria” ( Người cùng khổ ) vạch
trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần thức tỉnh các dân
tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng.Nguyễn Ái Quốc là người phụ trách chính của tờ báo.
Nǎm 1925, được sự giúp đỡ của những người cộng sản Pháp, tác phẩm Bản án chế độ
thực dân Pháp của đồng chí Nguyễn ái Quốc viết bằng tiếng Pháp được xuất bản lần đầu
tiên ở Pari. Tư tưởng, quan điểm cơ bản của Người về chiến lược và sách lược cách
mạng thuộc địa đã bước đầu thể hiện trong tác phẩm.
Bản án chế độ thực dân Pháp tố cáo trước nhân dân Pháp và thế giới những tội ác của
bọn thực dân không chỉ ở Việt Nam, Angiêri mà ở khắp các thuộc địa. Bằng biểu tượng
"con đỉa hai vòi", Nguyễn Ái Quốc đã làm cho người đọc thấy rằng: chủ nghĩa tư bản, chủ
nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc
lột ở các nước chính quốc và các dân tộc thuộc địa. Bản án chế độ thực dân Pháp đã góp
phần vào việc thiết lập sự liên minh giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng
giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, phải thực hiện sự liên minh chật chẽ với nhau để
chống kẻ thù chung, vì "chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc
tế giành được thắng lợi cuối cùng".
2.1.2, Thời kỳ ở Liên Xô (1923-1924) : Người tham gia hoạt động quốc tế và học tập
kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Mười Nga.
Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật từ Pari sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế Nông
dân lần thứ nhất ( 10-1923 ), và Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V ( 7-1924 ) Ở Liên
Xô, Nguyễn Ái Quốc tích cực nghiên cứu các vấn đề về dân tộc và thuộc địa. Người đã có
các tham luận quan trọng tại các đại hội quốc tế, viết nhiều bài cho các báo " Sự Thật" - cơ
quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Liên Xô, tạp chí " Thư tín Quốc tế" của Quốc tế Cộng
Sản.
Nguyễn Ái Quốc tiếp tục phát triển và hoàn thiện thêm tư tưởng về cách mạng giải
phóng dân tộc, thông qua hoạt động thực tiễn và nghiên cứu sách báo mácxít. Nguyễn Ái
Quốc đã nêu rõ mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng chính quốc, về vai
trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây là bước chuẩn bị quan
trọng về chính trị, tư tưởng cho sự thành lập Đảng Cộng Sản ở Việt Nam.
2.1.3, Thời kỳ ở Trung Quốc (1924-1927) : Hình thành quan niệm lý luận cách mạng cơ
bản
Tháng 11 năm 1924, với tư cách là uỷ viên Bộ phương Đông của Quốc tế cộng sản, trực
tiếp phụ trách Cục phương Nam, Nguyễn Ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung
Quốc) để hoạt động, xây dựng phong trào và đào tạo cán bộ cách mạng cho một số nước
ở Đông Nam Á. Tại đây, đồng chí đã cùng với các nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc,
Triều Tiên, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, v.v sáng lập ra Hội liên hiệp các dân tộc
bị áp bức ở Á - Đông.
Tháng 6 năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Chương trình
và Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích là : làm cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới. Sau
khi cách mạng thành công, Hội chủ trương thành lập Chính phủ nhân dân, mưu cầu hạnh
phúc cho nhân dân, tiến lên xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, thực hiện đoàn kết với
giai cấp vô sản các nước, với phong trào cách mạng thế giới.
Từ năm 1925 đến năm 1927, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã mở các lớp huấn
luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam. Hội đã xây dựng được nhiều cơ sở ở các
trung tâm kinh tế, chính trị trong nước. Năm 1928, Hội thực hiện chủ trương “ vô sản hóa ”,
đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để rèn luyện lạp trường, quan điểm giai cấp
công nhân, để truyền bá chủ nghĩa Mac-Lênin và lý luận giải phóng dân tộc nhằm thúc đẩy
sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam.
Đầu nǎm 1927, cuốn “ Đường cách mệnh “ gồm những bài giảng của Người trong các
lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu, được Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị
áp bức ở Á - Đông xuất bản. Trong tác phẩm quan trọng này, đồng chí Nguyễn ái Quốc
nêu ra những tư tưởng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mang Việt Nam.
Đường cách mệnh chỉ rõ đối tượng đấu tranh của cách mạng Việt Nam là tư bản đế
quốc chủ nghĩa, phong kiến địa chủ; đồng thời, chỉ rõ động lực và lực lượng cách mạng.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng là việc chung của cả dân chúng chứ không phải
việc của một hai người, do đó phải đoàn kết toàn dân. Nhưng cái cốt của nó là công –
nông và phải luôn ghi nhớ rằng công – nông là người chủ cách mệnh, công – nông là gốc
của cách mệnh.
Nguyễn Ái Quốc khẳng định : Muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo,
Đảng có vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới
chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc
chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.
Về phương pháp cách mạng, Người nhấn mạnh đến việc giác ngộ và tổ chức quần
chúng cách mạng, phải làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích cách mạng, biết đồng tâm
hiệp lực để đánh đổ giai cấp áp bức mình, làm cho cách mạng biết cách làm, phải có “
mưu chước ‘’, có như thế mới đảm bảo thành công cho cuộc khởi nghĩa với sự nổi dậy của
toàn dân.
Tác phẩm Đường cách mệnh đã đề cập những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính
trị, chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đường
cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Việt Nam
thanh niên cách mạng đồng chí Hội và tác phẩm Đường cách mệnh đã trực tiếp chuẩn bị
về tư tưởng, lý luận chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng vô sản kiểu mới ở Việt
Nam.
2.2, Chuẩn bị về tổ chức
2.2.1, Các tổ chức do Người thành lập ra
Năm 1921, nhờ sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số
chiến sĩ cách mạng ở nhiều nước thuộc địa của Pháp lập ra Hội liên Hiệp Thuộc địa nhằm
tập hợp tất cả những người ở thuộc địa sống trên đất Pháp đấu tranh chống chủ nghĩa
thực dân. Hội quyết định xuất bản tờ báo Người cùng khổ, do Bác làm chủ nhiệm kế bút.
Cuối năm 1921, tại đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Pháp họp ở Macxay, Người
đã trình bày dự thảo nghị quyết về vấn đề “ chủ nghĩa cộng sản và thuộc địa” và ý kiến
nghị thành lập Ban Nghiên Cứu thuộc địa trực thuộc ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản
Pháp. Kiến nghị đó được Đại hội chấp nhận . Năm 1922, Ban nghiên cứu thuộc địa được
cư làm trưởng tiểu ban nghiên cứu về vấn đề Đông Dương.
Tháng 6-1925, Người sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, hạt nhân là Cộng
sản đoàn. Cơ quan tuyên truyền của Hội là tuần báo báo Thanh niên. Đây là một bước
chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ
năm 1925-1927, người mỏ nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo một đội
ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Sau các khóa học một số được chọn đi học ỏ trường
Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, một số được cử đi học trường quân sự
Hoàng Phố, còn phần lớn trở về nước để “ truyền bá lí luận giải phóng dân tộc, và tổ chức
nhân dân”.
2.2.2, Cách thức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin của Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên
Sự truyền bá chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh vào trong
phong trào công nhân và phong trào yêu nước gắn liền với xây dựng các tổ chức cơ sở
của Hội ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng. Số hội viên của Hội tăng mạnh.
Năm 1928, có 300 hội viên, năm 1929 có 1700 hội viên. Tổ chức cũng được xây dựng
trong nhiều nhà máy, hầm mỏ. Một số đảng viên tiên tiến trong Tân Việt cũng ngả theo Hội,
nhiều người đã trở thành hội viên của Hội. Việc truyền bá lí luận giải phóng dân tộc và tổ
chức vận động nhân dân dấy lên một phong trào dân tộc chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh
mẽ, đặc biệt là phong trào công nhân.
Trong những năm 1926-1929, phong trào công nhân đã có sự lãnh đạo của các tổ chức
như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản ra đời
trong năm 1929. Ở giai đoạn này nhiều cuộc bãi công diễn ra. Từ năm 1928 đến năm
1929, có khoảng 40 cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra trong toàn quốc. Các cuộc đấu
tranh của công nhân Việt Nam trong những năm 1926-1929 mang tính chất chính trị rõ rệt.
Mỗi cuộc đấu tranh đã có sự liên kết giữa các nhà máy, các nghành và các địa phương.
Phong trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộc theo con đường cách mạng vô
sản.
3, Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập
Đảng và soạn thảo cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
3.1, Nguyễn Ái Quốc đứng đầu trong hội nghị thành lập Đảng
Tại đại hội lần thứ nhất của hội Việt Nam cách mạng thanh niên (5-1929) đã xảy ra sự
bất đồng giữa các đại biểu về việc thành lập Đảng cộng sản, thực chất là sự khác nhau
giữa các đại biểu muốn thành lập ngay một Đảng cộng sản và giải thể tổ chức hội Việt
Nam cách mạng thanh niên, với nhưng đại biểu cũng muốn thành lập Đảng cộng sản
nhưng không muốn tổ chức đảng ở giữa đại hội thanh niên và không muốn giải tán Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên. Trong bối cảnh đó các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra
đời.
Đông Dương cộng sản Đảng ra đời ngày 17-6-1929, tại Hà Nội, do đại biểu các tổ chức
cộng sản ở miền bắc thành lập. An Nam cộng sản Đảng thành lập vào mùa thu năm 1929,
do các đại biểu trong hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Trung Quốc và Nam Kỳ thành
lập. Sự ra đời của hai tổ chức cộng sản trên làm cho nội bộ Đảng Tân Việt phân hoá,
những đảng viên tiên tiến của Tân Việt đứng ra thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn.
Mặc dù đều giương cao ngọn cờ chống đế quốc, phong kiến, xây dựng chủ nghĩa cộng
sản ở Việt Nam, nhưng ba tổ chức cộng sản trên hoạt động phân tán, chia rẽ đã ảnh
hưởng xấu đến phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc này. Vì vậy, việc khắc phục sự chia
rẽ, phân tán giữa các tổ chức cộng sản là yêu cầu cấp thiết của cách mạng nước ta, là
nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả những người cộng sản Việt Nam.
Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người Cộng sản Đông Dương tài liệu
“Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương”, yêu cầu những người cộng sản
Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập một
đảng của giai cấp vô sản. Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông
Dương, Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng,
tại Hương Cảng, Trung Quốc. “ Với tư cách là Phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương”, Người
chủ động triệu tập “ đại biểu của hai nhóm (Đông Dương và An Nam)” và chủ trì Hội Nghị
hợp nhất đảng tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị bắt đầu họp từ ngày 6-
1-1930.
Thành phần Hội nghị hợp nhất gồm: 1 đại biểu của Quốc tế Cộng sản, 2 đại biểu của
Đông Dương Cộng sản Đảng, 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng. Hội nghị thảo luận đề
nghị của Nguyễn Ái Quốc gồm 5 điểm lớn, với nội dung:
1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm
cộng sản Đông Dương.
2. Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam
3. Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng.
4. Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước
5. Cử một Ban Trung ương lâm thời gồm chín người, trong đó có hai đại biểu
chi bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương.
Hội nghị nhất trí với Năm điểm lớn theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc và quyết định hợp
nhất các tổ chức cộng sản, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận và
thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và
Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo ra. Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu
của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời họp và ra
Nghị quyết chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt
Nam. Như vậy Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn tất việc hợp nhất ba tổ chức công sản ở
Việt Nam.
3.2, Người đã soạn thảo ra cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam như:
Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của
Đảng hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh
xác định các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:
 Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là : “tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
 Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng là đánh đổ
đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập.
Sau đó lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông. Về kinh tế thì
thủ tiêu hết các thứ quốc trái, tịch thu toàn bộ sản nghiệp của tư bản đế quốc Pháp
để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý. Tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn
đế quốc chủ nghĩa chia cho dân nghèo, bãi bỏ các sưu thuế. Về văn hóa thì phổ
thông giáo dục theo công nông hóa, nam nữ bình đẳng,…
 Về lực lượng cách mạng : Lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân và
nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải liên minh đoàn kết với tiểu tư sản, lợi dụng
hoặc trung lập phú nông, trung nông, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam chưa rõ mặt
phản cách mạng.
 Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Đảng là đội tiên phong cho giai cấp vô sản.
 Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên
lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản
Pháp.
4, Kết luận
Qua những gì đã tìm hiểu ở trên ta thấy được rằng:
1/ Sau gần 10 năm tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-
Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc đồng thời đó là cơ sở lý luận
của Đảng.
2/ Nguyễn Ái Quốc đã chuyển bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam:
a) Tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin vào nước ta thông qua các sách báo: Nhân đạo,
Đời sống công nhân, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mạng v.v
b) Thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin chuẩn bị
thành lập Đảng.
3/ Đến 1929, ba tổ chức cộng sản ra đời nhưng lại công kích lẫn nhau. Yêu cầu của
lịch sử cần phải có một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước. Với thiên tài và uy tín,
Nguyễn Ái Quốc đã thống nhất 3 tổ chức cộng sản thành 1 đảng duy nhất - Đảng Cộng
sản Việt Nam.
4/ Người đã vạch ra cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đặt nền tảng cho đường
lối cách mạng của Đảng ta.
Tóm lại Hồ Chí Minh có vai trò rất lớn đối với sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Có
thể nói Bác là người đã sáng lập ra Cộng sản Việt Nam.
5, Liên hệ thực tiễn vai trò của Hồ Chí Minh đối với Đảng ta hôm nay
Dù Bác đã cách xa chúng ta hơn 40 năm nhưng vai trò của Người đối với Đảng và cuộc
sống chúng ta hôm nay vẫn là rất lớn. Tư tưởng của Người không chỉ là kim chỉ nam cho
định hướng, chính sách của Đảng mà còn đóng góp giáo dục thế hệ thanh thiếu niên hôm
nay luôn kiên định với con đường xã hội chủ nghĩa mà Người đã dày công vun đắp. Qua
những gì đã chứng minh ở trên ta thấy được rằng Người đóng vai trò rất lớn đối với việc
thành lập Đảng. Trong những năm tháng chiến tranh cũng chính là Người đã dìu dắt Đảng
ta, nhân dân ta vượt qua những khó khăn để dành được thắng lợi cuối cùng. Trong công
cuộc đổi mới hôm nay, chúng ta đã tiến hành nhiều cải cách nhiều thay đổi để phù hợp với
yêu cầu khách quan của thực tiễn. Thế nhưng vẫn luôn tuyệt đối trung thành theo con
đường vô sản mà Người đã chọn.
Bác là người đã đặt nền móng cho chủ nghĩa vô sản ở đất nước ta, và từ những tư
tưởng của Người đã được Đảng và nhân dân áp dụng sáng tạo trong công cuộc công
nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước hôm nay. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh,Đảng ta đẩy
mạnh công tác xây dựng Đảng trên tất cả các mặt : tư tưởng-lí luận, chính trị tổ chức và
cán bộ đạo đức làm cho Đảng trong sạch vững mạnh,đạt tầm cao về đạo đức,trí tuệ bản
lĩnh chính trị vững vàng trước mọi thử thách của lịch sử.
Về chính trị: có đường lối chính trị đúng đắn,bản lĩnh chính trị vững vàng trong mọi
tình huống phức tạp,một đường lối cứng rắn về chiến lược,mềm dẻo về sách lược,linh hoạt
về biện pháp đấu tranh.Đặc biệt trong tình hình chính trị thế giới hiện nay,với những cuộc
xung đột liên quan tới vũ khí hạt nhân thì Đảng ta cần phải có một bản lĩnh vững vàng để
bảo vệ đất nước.Hiện nay, Việt Nam đã quyết định không cho nước ngoài thuê cảng Cam
Ranh nữa,mà đã quyết định tự mình xây dựng cảng Cam Ranh bằng nguồn lực của chính
mình và sẽ sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho tàu hải quân tất cả các quốc gia . Đây là một
đường lối đúng đắn, chúng ta không nghiêng về phía cường quốc kinh tế nào nữa, mà sẽ
tự dựa vào sức mình để xây dựng cảng có vị trí tự nhiên tốt cũng như quân sự quan trong
này. Hơn nữa trong các cuộc tranh chấp của các nước, chủ trương của Đảng ta là trung lập
không theo phe phái nào. Tình hình thế giới hiện nay đang ngày càng phức tạp, tranh chấp
trên Biển Đông cũng đang xấu đi. Nhưng vẫn theo những đường lối mềm dẻo mà Bác đã
áp dụng khi nước ta vừa dành được độc lập năm 1945, chủ trương của Đảng vẫn là giải
quyết các cuộc tranh chấp trên cơ sở các cuộc đàm phán ngoại giao, thỏa hiệp. Tuy nhiên
như thế cũng không phải là chúng ta nhín nhường, chúng ta vẫn luôn cứng rắn bảo vệ chủ
quyền đất nước ta, chuẩn bị các vũ khí tối tân nhằm trường hợp xấu nhất có thể xảy ra.
Tuân theo di nguyện của Người, Đảng và nhân dân ta quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền
cho đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trường tồn.
Về tư tưởng: Sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chứng minh qua những
thắng lợi trong chiến tranh. Và giờ đây khi đất nước đang trong quá trình hội nhập với thế
giới, cuộc chiến về diễn biến hòa bình cũng thầm lặng và cam go hơn hết. Trách nhiệm của
Đảng không chỉ là duy trì những tinh hoa từ tư tưởng của Người mà còn phải phát huy sáng
tạo trước những điều kiện hoàn cảnh mới. Bác đã thành lập và đặt nền móng cho chủ nghĩa
xã hội ở đất nước ta, con đường của Người đã giải phóng ách nô lệ cho đồng bào ta. Vì thế
mỗi người dân hôm nay phải phát huy tích cực hơn nữa xây dựng đất nước ngày càng giàu
đẹp phồn vinh và kiên định theo con đường chủ nghĩa xã hội mà bác đã chọn.
Về đạo đức,lói sống: Khi còn sống Bác vẫn thường căn dặn mỗi cán bộ,đảng viên phải
coi trọng tu dưỡng đạo đức,cần kiệm liêm chính,chí công vô tư. Thế nhưng hiện nay những
đức tính này dần dần đã bị suy thoái,và những hạn chế này đã là giảm sút nghiêm trọng
niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Bởi vẫn có những người tham ô,lãng phí,gần đây nhất
là vụ việc Vinashin đã làm thất thoát hơn 86.000 tỉ đồng,hay vụ án PMU 18 mặc dù xảy ra
đã lâu nhưng vẫn để lại hâu quả nghiêm trọng. Những người đứng trong hàng ngũ của
Đảng, giữ những chức vụ cao nhưng không nêu gương đạo đức tốt mà còn tha hóa suy đồi
là những điều cần được xem lại để có những biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi. Sự việc chủ
tịch tỉnh Hà Giang buông thả trong lối sống gây ra làn sóng bất bình trong Đảng và xã hội,
ông đã phải chịu những hình phạt đích Đảng.
Tuy nhiên,chúng ta cũng đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác xây dựng Đảng
cầm quyền. Được chiếu rọi bởi ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng quyết tâm xây dựng
và chỉnh đốn về mọi mặt một cách thiết thực,đáp ứng nhu cầu phát triển của giai cấp và dân
tộc là quy luật tồn tại sống còn của Đảng.Chính trên ý nghĩa quan trong đó,việc tiếp tục đẩy
mạnh nghiên cứu,tuyên truyền,giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng
trong sạch vững mạnh phải được quán triệt đến từng tổ chức cơ sở Đảng, từng cán bộ,
đảng viên .
Các tài liệu tham khảo :
1, Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
2, Lịch sử Đảng của Trần Ngọc Song
3, Trang web bảo tàng Hồ Chí Minh: http://www.baotanghochiminh.vn/
4, Trang chủ báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam : http://www.cpv.org.vn/cpv/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét