2. Bản chất của hiệu quả kinh tế trong kinh doanh thơng mại quốc tế.
Hiện nay ở nớc ta kinh doanh thơng mại quốc tế có vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong Nghị Quyết Đại hội Đảng lần
thứ VIII nhấn mạnh: Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Mở
rộng thị trờng xuất nhập khẩu, tăng khả năng xuất khẩu các mặt hàng đã qua
chế biến sau, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ
Đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng
đầu của bất kỳ nền sản xuất nào nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng.
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nớc ta, vấn đề nâng cao hiệu quả
kinh tế trở thành một vấn đề cấp bách vì:
- Nâng cao hiệu quả kinh tế kinh doanh thơng mại quốc tế là một nhân tố
quyết định để chúng ta tham gia vào phân công lao động quốc tế, thâm nhập
thị trờng nớc ngoài. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thơng mại quốc
tế còn là yêu cầu tất yếu của việc thực hiện quy luật tiết kiệm.
- Kinh doanh thơng mại quốc tế thông qua hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu đem lại cho nền kinh tế quốc dân nói chung bằng cách làm đa dạng hóa
hoặc làm tăng khối lợng giá trị sử dụng cho nền kinh tế quốc dân và mặt khác
làm tăng thu nhập quốc dân nhờ tranh thủ đợc lợi thế so sánh trong trao đổi
với nớc ngoài, tạo thêm tích lũy cho quá trình tái sản xuất trong nớc, góp phần
cải thiện đời sống nhân dân trong nớc.
- Hiệu quả kinh tế xã hội mà chủ đợc thẩm định bởi thị trờng chính là
tiêu chuẩn cơ bản để xác định phơng hớng hoạt động kinh doanh thơng mại
quốc tế.
Xét về mặt lý luận, nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế trong kinh
doanh thơng mại quốc tế là góp phần đắc lực thúc đẩy nhanh năng suất lao
động xã hội và tăng thu nhập quốc dân có thể sử dụng, qua đó tạo thêm nguồn
tích lũy cho sản xuất và nâng cao mức sống trong nớc. Nhng thực tế xác định
một cách chính xác hiệu quả kinh tế kinh doanh thơng mại quốc tế đối với
nền kinh tế nói chung thờng khó khăn, vì tác động của nó phải thông qua
nhiều khu vực, nhiều công đoạn, nhiều tổ chức thực hiện khác nhau và chịu
ảnh hởng không ít của nhiều yếu tố sản xuất và chi phí sản xuất đan chéo
5
nhau. Nhng yếu tố của công tác quản lý và hạch toán lại đòi hỏi phải xác định
đợc hiệu quả kinh tế kinh doanh thơng mại quốc tế đối với nền kinh tế quốc
dân và của từng doanh nghiệp. Do đó chúng ta sẽ đi nghiên cứu những biểu
hiện khác nhau của hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp thơng mại quốc tế qua
cách phân loại hiệu quả kinh tế trong phần tiếp theo đây.
3. Phân loại hiệu quả kinh tế trong kinh doanh thơng mại quốc tế.
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh tế của ngành kinh doanh
thơng mại quốc tế đợc biểu hiện ở những đặc trng, ý nghĩa cụ thể khác nhau.
Việc phân loại hiệu quả kinh tế kinh doanh thơng mại quốc tế theo những tiêu
thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý thơng mại. Nó là
cơ sở để xác định các chỉ tiêu, mức hiệu quả và xác định những biện pháp
nâng cao hiệu quả kinh tế kinh doanh thơng mại quốc tế. Có thể phân hiệu
quả kinh tế thành các loại sau:
- Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế
quốc dân.
* Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu đợc từ hoạt động kinh
tế của từng doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Biểu hiện chung của hiệu quả cá
biệt là doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt đợc.
* Hiệu quả kinh tế xã hội mà kinh doanh thơng mại quốc tế đem lại cho
nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của hoạt động thơng mại quốc tế vào
việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế , tăng năng suất lao động xã
hội, tích lũy ngoại tệ, tăng thu cho Ngân sách, giải quyết việc làm, cải thịên
đời sống nhân dân
Trong quản lý kinh doanh thơng mại quốc tế, các doanh nghiệp không
những cần tính toán và đạt đợc hiệu quả trong hoạt động của mình mà còn
phải tính toán để đạt đợc hiệu quả của nền kinh tế- xã hội đối với nền kinh tế
quốc dân. Trong chiến lợc kinh tế xã hội đến năm 2000 của nớc ta đã xác
định Hiệu quả kinh tế xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển
Giữa hiệu quả kinh tế cá biệt với hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ
nhân quả và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể
6
đạt đợc trên cơ sở có hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy vậy, có thể có những
doanh nghiệp xuất nhập khẩu không đảm bảo đợc hiệu quả (bị lỗ) nhng nền
kinh tế vẫn thu đợc hiệu quả. Tuy nhiên, tình hình thua lỗ của doanh nghiệp
nào đó chỉ có thể chấp nhận trong những thời điểm nhất định do những
nguyên nhân khách quan mang lại. Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu
quả kinh tế xã hội vì đó chính là tiền đề và điều kiện cho doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả. Nhng để doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế
xã hội chung của nền kinh tế quốc dân, Nhà nớc cũng cần có những chính
sách đảm bảo kết hợp hài hoà giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của doanh
nghiệp và cá nhân ngời lao động.
- Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp.
Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là thu đợc lợi nhuận tối đa. Do
đó, doanh nghiệp phải căn cứ vào thị trờng để ra quyết định sản xuất cái gì,
sản xuất nh thế nào, sản xuất cho ai với chi phí bao nhiêu.
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
trong những điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật,
trình độ tổ chức bà quản lý lao động, quản lý kinh doanh. Họ đa ra thị trờng
sản phẩm của mình với một chi phí cá biệt nhất định với mục đích thu đợc lợi
nhuận lớn nhất.
Suy cho cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội. Nhng tại mỗi
doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phí đó lại đợc thể
hiện dới dạng những chi phí cụ thể nh: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao
động sống, chi phí hao mòn máy móc thiết bị, chi phí ngoài sản xuất Đánh
giá hiệu quả kinh tế hoạt động xuất nhập khẩu không thể không đánh giá hiệu
quả tổng hợp của các loại chi phí trên đây, nhng cũng cần thiết phải đánh giá
hiệu quả của từng loại chi phí nhằm giúp cho ngời quản lý tìm đợc các biện
pháp giảm chi phí cá biệt của doanh nghiệp nhằm tăng lợi nhuận kinh tế.
Nguồn gốc hiệu quả kinh tế kinh doanh thơng mại quốc tế chính là từ kết
quả và chi phí sản xuất trong nớc. Khi một nớc tham gia vào phân công lao
động quốc tế, có thể phát triển sản xuất hàng hoá với chi phí thấp để đáp ứng
7
nhu cầu của bản thân và cũng để xuất khẩu. Đồng thời, nớc đó có thể nhập
khẩu sản phẩm cần thiết mà việc tự sản xuất tốn kém hơn. Kết quả là nhờ kinh
doanh thơng mại quốc tế các chi phí chung (chi phí sản xuất) để sản xuất ra
một khối lợng hàng hoá đợc sử dụng trong nớc, nhằm đáp ứng nhu cầu sản
xuất và tiêu dùng cá nhân sẽ thấp hơn khi ta bố trí sản xuất chủ yếu bằng sức
lực riêng. Nói cách khác, chi phí sản xuất trong nớc là cơ sở của hiệu quả kinh
tế kinh doanh thơng mại quốc tế. Nh vậy hiệu quả kinh tế kinh doanh thơng
mại quốc tế nói chung đợc tạo thành trên cơ sở hiệu quả của các loại chi phí
cấu thành. Các đơn vị sản xuất kinh doanh là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố
đầu vào và đê sản xuất vì vậy bản thân các đơn vị sản xuất kinh doanh này
phải quan tâm xác định những biện pháp đồng bộ để thu đợc hiệu quả toàn
diện trên các yếu tố của quá trình tái sản xuất.
- Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh .
Trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, việc xác định
hiệu quả nhằm hai mục đích cơ bản sau:
Một là: Đánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình tái
sản xuất kinh doanh.
Hai là: Để phân tích, lý giải về kinh tế các phơng án khác nhau trong việc
thực hiện mọi nhiệm vụ của thể nào đó, từ đó lựa chọn một phơng án tối u.
* Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả tính toán cho từng phơng án cụ thể bằng
cách xác định mức lợi thu đợc với lợng chi phí bỏ ra. Chẳng hạn, tính toán
mức lợi nhuận thu đợc từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành), hoặc từ một
đồng vốn bỏ ra.
Ngời ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện
một thơng vụ nào đó, để biết đợc với những chi phí bỏ sẽ thu đợc những lợi
ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí
hay không cho thơng vụ đó. Vì vậy trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ
công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí, dù với một lợng lớn hay nhỏ cũng đều
phải tiến hành tính toán hiệu quả tuyệt đối.
8
* Hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối của các phơng án với nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là
mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phơng án. Mục đích chủ yếu của
việc tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phơng án để từ đó cho
phép lựa chọn một phơng án có hiệu quả cao nhất.
Mỗi phơng án đòi hỏi một lợng đầu t vốn, lợng chi phí khác nhau, thời
gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu t cũng khác nhau. Vì vậy, muốn
đạt đợc hiệu quả kinh tế cao, nhà quản trị không đơn thuần đề ra một phơng
án, mà phải vận dụng mọi sử hiểu biết để đa vào nhiều phơng án khác nhau,
rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phơng án đó để chọn ra một phơng án có
hiệu quả nhất.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong kinh doanh thơng mại quốc
tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song chúng lại có tính độc lập tơng đối.
Việc xác định hiệu quả tuyệt đối là trên cơ sở để xác định hiệu quả so sanh.
Nghĩa là, trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phơng án, ngời ta so
sánh hiệu quả tuyệt đối ấy của các phơng án khác nhau. Mức chênh lệch chính
là hiệu quả so sánh.
II. Các nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lợng tổng
hợp, nó liên quan tới tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nó
chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau.
Muốn đa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trớc hết
doanh nghiệp phải xác định đợc nhân tố nào tác động đến kinh doanh và tác
động đến hiệu quả kinh doanh, nếu không làm đợc điều này thì doanh nghiệp
không thể biết đợc hiệu quả hình thành từ đâu và cái gì sẽ quyết định nó. Xác
định nhân tố ảnh hởng, ảnh hởng nh thế nào và mức độ, xu hớng tác động là
nhiệm vụ của bất cứ nhà kinh doanh nào.
Nói đến nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh có rất nhiều, nhng
chúng ta có thể chia làm hai nhóm chính: Nhân tố bên trong doanh nghiệp và
9
nhân tố ngoài doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải có biện
pháp tác động lên các yếu tố một cách hợp lý, có hiệu quả, làm cho doanh
nghiệp ngày càng phát triển tốt hơn, phát huy tốt hơn các nhân tố tích cực và
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn hoạt động đợc thì nó phải có một hệ thống cơ sở
vật chất, con ngời, đây chính là nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp.
Trong guồn máy hoạt động chung của doanh nghiệp, mỗi nhân tố đóng một
vai trò nhất định, mà thiếu nó thì toàn bộ hệ thống sẽ hoạt động kém hiệu quả
hay ngừng hoạt động. Dới đây xin đa ra một số nhân tố ảnh hởng chính đến
hiệu quả kinh doanh.
1.1. Vốn kinh doanh.
Ngày nay, nói đến kinh doanh thì nhân tố đầu tiên đợc quan tâm chính là
vốn, đây là yếu tố nền tảng cho một hoạt động kinh doanh bắt đầu. Ngay trong
luật pháp của Việt Nam cũng có quy định điều luật một doanh nghiệp đợc xã
hội thừa nhận thì phải có số vốn tối thiểu là bao nhiêu. Vì vậy, có thể khẳng
định tầm quan trọng của vốn trong kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp đợc thực hiện bằng tiền của toàn bộ
tài chính của doanh nghiệp dùng trong kinh doanh, bao gồm:
- Tài sản cố định hữu hình, Nhà của, kho tàng, cửa hàng, quầy hàng, các
thiết bị máy móc
- Tài sản cố định vô hình. Bằng phát minh sáng chế, bản quyền sỏ hữu
công nghiệp, uy tín của công ty trên thị trờng, vị trí địa lý, nhãn hiệu các hàng
hoá mà doanh nghiệp kinh doanh
- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp thơng mại có vai trò quyết định
trong việc thành lập loại hình doanh nghiệp theo luật định. Nó là điều kiện
quan trọng nhất cho sự ra đời, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
10
Vốn kinh doanh là một trong những tiềm năng quan trọng nhất của
doanh nghiệp. Vốn lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan trọng để
xếp doanh nghiệp vào loại có quy mô lớn, trung bình, nhỏ.
Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở để hoạch định chiến lợc và kế
hoạch kinh doanh. Nó là một chất keo để chắp nối, dính kết các quá trình và
quan hệ kinh tế.
Vốn kinh doanh là điều kiện, khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc tối đa hoá lợi ích dựa trên
cơ sở chi phí bỏ ra hay là tối thiểu hoá chi phí cho một mục tiêu nhất định nào
đó. Trong kinh doanh không thể thiếu khái niệm chi phí khi muốn có hiệu
quả. Vì vậy mà vốn chính là cơ sở để tạo ra lợi nhuận, đạt đợc mục đích cuối
cùng của nhà kinh doanh.
Thiếuvốn cho kinh doanh sẽ làm giảm hiệu quả do không tận dụng đợc
lợi thế quy mô, không tận dụng đợc các thời cơ, cơ hội. Tuy nhiên, thiếu vốn
là vấn đề mà các doanh nghiệp luôn luôn gặp phải. Đứng trên góc độ của nhà
kinh doanh thì cách thức giải quyết sẽ là tối đa hoá lợi ích trên cơ sở số vốn
hiện có.
1.2. Bộ máy tổ chức, quản lý và lao động.
Con ngời là khởi nguồn của mọi hoạt động có ý thức. Hoạt động kinh
doanh đợc bắt đầu là do con ngời, tổ chức thực hiện nó cũng chính do con ng-
ời. Một đội ngũ công nhân viên tốt là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện kinh
doanh có hiệu quả. Với khả năng lao động và sáng tạo thì nhân tố con ngời đ-
ợc đánh giá là nhân tố nòng cốt cho sự phát triển. Kết hợp với hệ thống t liệu
sản xuất con ngời đã hình thành nên quá trình sản xuất. Sự hoàn thiện của
nhân tố con ngời sẽ từng bớc hoàn thiện quá trình sản xuất và xác lập hiệu quả
kinh doanh trong doanh nghiệp. Tuy vậy mỗi cá nhân đặt ngoài sự phân công
lao động sẽ lại lại là một nhân tố làm giảm hiệu quả kinh doanh, khắc phục
điều này chính là nguyên nhân ra đời của bộ máy tổ chức, quản lý.
Bộ máy tổ chức, quản lý là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo
xuống các cá nhân, công nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện một
11
hành động hay một công việc nào đó. Bộ máy tổ chức, quản lý có hiệu quả là
yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Sự kết hợp yếu tố sản xuất
không phải là tự phát nh quá trình tự nhiên mà là kết quả của hoạt động có tổ
chức, có kế hoạch, có điều khiển của con ngời, vì vậy hình thành bộ máy tổ
chức có hiệu quả là một đòi hỏi để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo ra một cơ cấu sản xuất phù hợp và thúc
đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Một cơ cấu hợp lý còn góp phần
xác định chiến lợc kinh doanh thông qua cơ chế ra quyết định và ảnh hởng
đến việc thực hiện mục tiêu và chiến lợc đó.
Cơ cấu tổ chức phù hợp góp phần phát triển nguồn nhân lực. Xác định rõ
thực lực của từng cá nhân cụ thể, đặt họ đúng vị trí trong doanh nghiệp sẽ là
cách thúc đẩy hiệu quả và phát huy nhân tố con ngời. Đồng thời nó tạo động
lực cho các cá nhân phát triển, nâng cao trình độ khả năng của mình.
1.3. Nghệ thuật kinh doanh.
Nghệ thuật kinh doanh là việc sử dụng có hiệu quả nhất các phơng án
tiềm năng, các cơ hội và các kinh nghiệm đợc tích luỹ trong quá trình kinh
doanh nhằm đạt đợc mục tiều đề ra của doanh nghiệp.
Nghệ thuật kinh doanh là đảm bảo cho doanh nghiệp luôn tồn tại và phát
triển. Đó là việc sử dụng các tiềm năng của bản thân doanh nghiệp cũng nh
của ngời khác, các cơ hội các phơng pháp thủ đoạn kinh doanh có thể để: Bỏ
ra chi phí ít, thu lại đợc nhiều, che dấu những nhợc điểm của doanh nghiệp,
giữ bí mật kinh doanh và khai thác đợc những điểm mạnh, điểm yếu của ngời
khác, giải quyết nhanh ý đồ của doanh nghiệp mà không lôi kéo các đối thủ
mới vào cuộc. Đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển lâu dài.
1.4. Mạng lới kinh doanh.
Trong thời buổi kinh tế thị trờng hiện nay mỗi doanh nghiệp cần phải mở
rộng mạng lới kinh doanh của mình, vì mạng lới kinh doanh là cách thức để
doanh nghiệp có thể tiêu thụ đợc sản phẩm của mình. Có tiêu thụ đợc sản
phẩm thì mới thực hiện đợc kết quả kinh doanh và thực hiện lợi nhuận. Mở
12
rộng mạng lới tiêu thụ cho phép doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh,
tăng doanh số bán và lợi nhuận. Mạng lới kinh doanh phù hợp sẽ cho phép
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hịên nay tình hình thị trờng rất biến động và cạnh tranh ngày càng gay
gắt, mỗi doanh nghiệp cần phải năng động sáng tạo tìm ra cái mới, cái cần và
ngày càng hoàn thiện mạng lới kinh doanh để thích nghi trong cơ chế thị trờng
và đa doanh nghiệp ngày càng đi lên.
1.5. Đòn bẩy kinh tế trong doanh nghiệp.
Việc doanh nghiệp sử dụng các hình thức trách nhiệm vật chất, thởng
phạt nghiêm minh sẽ tạo ra động lực cho ngời lao động nỗ lực hơn trong phần
trách nhiệm của mình, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhân tố này
cho phép doanh nghiệp khai thác tối đa tiềm năng lao động, tạo điều kiện cho
mọi ngời, mọi bộ phận phát huy đầy đủ quyền chủ động sáng tạo trong sản
xuất và kinh doanh.
2. Những nhân tố ngoài doanh nghiệp.
Ngoài các nhân tố thuộc doanh nghiệp thì hệ thống nhân tố ngoài doanh
nghiệp cũng ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1. Thị trờng.
Thị trờng tổng hợp các thoả thuận thông qua đó ngời mua và ngời bán
trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Chức năng cơ bản của thị trờng là ấn định giá cả
đảm bảo sao cho số lợng mà những ngời muốn mua bằng số lợng của những
ngời muôn bán. Thị trờng đợc cấu thành bởi ngời bán, ngời mua, hàng hoá và
hệ thống quy luật thị trờng.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng thì tất
yếu phải chịu sự tác động và tuân theo các quy luật của thị trờng, việc thực
hiện ngợc lại các quy luật tất yếu sẽ bị đào thải. Thị trờng tác động đến kinh
doanh của doanh nghiệp thông qua các nhân tố sau:
* Cầu về hàng hoá
13
Cầu về hàng hoá là số lợng hàng hoá dịch vụ mà ngời mua muốn mua và
sẵn sàng mua tại những giá cụ thể. Cầu là một bộ phận cấu thành lên thị trờng,
nó là lợng hàng hoá tối đa mà doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại một thời điểm
tại một mức giá nhất định. Khi cầu thị trờng về hàng hoá của doanh nghiệp
tăng thì lợng tiêu thụ tăng lên. Giá trị đợc thực hiện nhiều hơn, quy mô sản
xuất mở rộng và doanh nghiệp đạt đợc lợi nhuận ngày càng tăng. Chỉ có cầu
thị trờng thì hiệu quả kinh doanh mới đợc thực hiện, thiếu cầu thị trờng thì sản
xuất sẽ luôn trong tình trạng trì trệ, sản phẩm luôn tồn tại trong kho, giá trị
không đợc thực hiện điều này tất yếu là không có hiệu quả.
Vấn đề cầu thị trờng luôn đợc các doanh nghiệp quan tâm. Trớc khi ra
quyết định thực hiện một hoạt động kinh doanh cụ thể nào thì công việc đầu
tiên đợc các doanh nghiệp xem xét đó là cầu thị trờng và khả năng đa sản
phẩm của mình vào thị trờng. Ngày nay cầu thị trờng đang trong tình trạng trì
trệ, vấn đề kích cầu đang đợc Nhà nớc và Chính phủ đạt lên hàng đầu để thúc
đẩy phát triển kinh tế, đây cũng là vấn đề gây khó khăn cho các doanh nghiệp.
Nghiên cứu cầu thị trờng đầy đủ sẽ là nhân tố góp phần thành công của doanh
nghiệp.
* Cung về hàng hoá.
Cung thị trờng hàng hoá là lợng hàng hoá mà ngời bán muốn bán và sẵn
sàng bán tại những mức giá cụ thể.
Nhìn chung cung thị trờng về hàng hoá tác động đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trên hai phơng diện sau:
- Cung thị trờng về tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
thông qua hệ thống các yếu tố đầu vào mà doanh nghiệp cần. Việc thị trờng
có đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu của doanh nghiệp sẽ đảm bảo hoạt động
kinh doanh diễn ra đều đặn và liên tục, nếu không thì sẽ dẫn đến tình trạng
cạnh tranh trong việc thu mua yếu tố đầu vào.
- Cung thị trờng tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
thông qua việc tiêu thụ. Nếu thị trờng có quá nhiều đối thủ cũng nh cung cấp
mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất hay những những mặt hàng thay thế, thì
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét